Ảnh hưởng của một số khẩu phần thức ăn đến khả năng sản xuất cà phê chồn nguyên liệu của cầy vòi hương trong điều kiện nuôi nhốt

pdf 9 trang Hùng Dũng 04/01/2024 260
Bạn đang xem tài liệu "Ảnh hưởng của một số khẩu phần thức ăn đến khả năng sản xuất cà phê chồn nguyên liệu của cầy vòi hương trong điều kiện nuôi nhốt", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • pdfanh_huong_cua_mot_so_khau_phan_thuc_an_den_kha_nang_san_xuat.pdf

Nội dung text: Ảnh hưởng của một số khẩu phần thức ăn đến khả năng sản xuất cà phê chồn nguyên liệu của cầy vòi hương trong điều kiện nuôi nhốt

  1. Tạp chí Khoa học Đại học Thủ Dầu Một Số 2(33)-2017 ẢNH HƢỞNG CỦA MỘT SỐ KHẨU PHẦN THỨC ĂN ĐẾN KHẢ NĂNG SẢN XUẤT CÀ PHÊ CHỒN NGUYÊN LIỆU CỦA CẦY VÒI HƢƠNG TRONG ĐIỀU KIỆN NUÔI NHỐT Nguyễn Thị Thu Hiền(1), Nguyễn Thị Yến Nhi(1), Nguyễn Thị Thanh Thảo(1), Nguyễn Thanh Bình(1) (1)Trường Đại học Thủ Dầu Một Ngày nhận 20/01/2017; Chấp nhận đăng 29/02/2017; Email: thuhientdm@gmail.com Tóm tắt Nghiên cứu này đánh giá hiệu quả việc áp dụng một số khẩu phần thức ăn đến khả năng ăn cà phê của cầy vòi hương trong điều kiện nuôi nhốt, với mục tiêu bảo quản sau thu hoạch cho cà phê qua sản xuất “cà phê phân chồn” để nâng cao giá thành cà phê. Bằng việc xác định nhu cầu ăn, xây dựng các khẩu phần phù hợp và áp dụng các khẩu phần vào thực nghiệm để xác định khả năng ăn cà phê chín của chồn, kết quả cho thấy, có sự cao hơn đáng kể lượng cà phê chồn ăn được giữa các lô thực nghiệm (330 - 343g/con/ngày) và lô đối chứng (243g/con/ngày), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05). Kết quả đã đánh giá rằng, việc sử dụng các khẩu phần phù hợp kết hợp bổ sung cà phê chín đã tăng lượng cà phê chồn ăn vào và làm tăng giá trị cà phê sau thu hoạch. Từ khóa: cà phê chồn, Cầy vòi hương, khẩu phần, sau thu hoạch Abstract EFFECTS OF DIET ON PRODUCIBILITY OF RAW WEASEL COFFEE OF CIVETS IN CAPTIVITY This study aimed to evaluate the effect of some diets on the ability to eat coffee of civets civets in captivity, with the goal of preserving postharvest coffee through producing “weasel coffee”, to raise coffee prices. By combining diets, diets time alternating ripe coffee and determining the percentage of basic types of food to increase the ability to eat ripe coffee of civets. By determining the demand for food, building appropriate rations, and applying the rations in the experiment to determine the ability to eat ripe coffee from weasel, the results showed that there was a significant increase in coffee intake between the experimental plots (330-343 g / head / day) and control plots (243g / head / day), the difference was statistically significant (p <0.05). The results were evaluated that the using suitable diets in combination with ripe coffee were aimed to increase the amount of coffee intake and the quality of preserved post-harvest coffee. 1. Giới thiệu Cầy vòi hương (Paradoxurus hermaphroditus, Pallas, 1777) thuộc họ cầy (Viverridae), bộ ăn thịt (Carnivora), phân bố rộng rãi ở miền Trung, miền Nam và Đông Nam Á: Borneo, Ấn Độ, Lào, Malaysia, bán đảo Myanmar, Indonesia, Philippines, Thái Lan, Campuchia (T. 161
  2. Nguyễn Thị Thu Hiền Ảnh hưởng của một số khẩu phần thức ăn Iseborn, 2012), Đài Loan, miền nam Trung Quốc (bao gồm cả đảo Hải Nam), Nepal, Singapore, Sri Lanka, Việt Nam (Roberton, 2007) và rải rác ở một số nơi khác trên thế giới (Nguyễn Lân Hùng và Nguyễn Khắc Tích, 2010; Duckworth, 2014). Đây là loài thú ăn tạp và có vai trò quan trọng trong phát tán hạt giống trong rừng (Grassman Jr. and cs, 1998; Nakashima Y& cs, 2010a,b). Ở Việt Nam, cầy vòi hương phân bố rộng trên toàn quốc: Lào Cai, Sơn La, Tuyên Quang, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Bắc Giang, Quảng Ninh, Hòa Bình, Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Đà Nẵng, Gia Lai, Đắk Lắk, Lâm Đồng, Đồng Nai (Đặng Huy Huỳnh và cs, 2010). Việc săn bắt và sử dụng cầy vòi hương với nhiều mục đích khác nhau như lấy thịt, hương liệu, sử dụng trong sản xuất cà phê chồn cùng với sự suy giảm môi trường sống của chúng đang làm cạn kiệt loài này trong tự nhiên . Hiện nay, nghề nuôi cầy vòi hương đem lại giá trị kinh tế cao nên ngày càng được nhiều người lựa chọn (Nguyễn Thanh Bình, 2015a,b) đã công bố về một số bệnh thường gặp và ảnh hưởng của PMSG và HCG lên thành tích sinh sản của cầy còi hương trong điều kiện nuôi nhốt. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về cầy vòi hương trong điều kiện nuôi còn khá khiêm tốn. Việt Nam là nước có diện tích trồng cà phê lớn, là nước sản xuất cà phê nhiều đứng thứ 2 trên thế giới. Tuy nhiên việc thu hoạch, bảo quản và nâng cao giá trị của cà phê Việt Nam chưa được chú trọng đúng mức. Mặt khác, “cà phê chồn” được biết đến như là một cà phê đặc biệt do hương vị và giá bán cao. Những năm gần đây phong trào nuôi cầy vòi hương phổ biến ở nhiều địa phương trong cả nước , nhiều nơi đã có một số mô hình nuôi cầy vòi hương để sản xuất cà phê chồn. Việc thu mua cà phê tươi với giá thành thấp sau đó bán cà phê chồn với giá thành cao mang lại lợi nhuận lớn cho người chăn nuôi. Cà phê chín trong thời gian ngắn, trong khi đó lượng cà phê chồn ăn được chưa nhiều, mong muốn của người chăn nuôi là thu được năng suất cao trong việc sản xuất cà phê chồn. Tuy nhiên cà phê không phải là thức ăn chính và đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng cho cầy vòi hương. Thực tế chăn nuôi đã cho thấy nếu bị bỏ đói hoặc dinh dưỡng không hợp lí thì cầy vòi hương sẽ không ăn trái cà phê nào. Hơn nữa, nếu chỉ cho ăn cà phê, cầy vòi hương có thể bị say cà phê và phát bệnh, ốm yếu. Chế độ dinh dưỡng hợp lí (80% thức ăn cơ bản với 50% thức ăn thực vật, 50% thức ăn động vật trong khẩu phần) đã nâng cao hiệu quả của việc sản xuất cà phê chồn nguyên liệu (Nguyễn Thị Thu Hiền và cs, 2017). Việc xây dựng các khẩu phần cụ thể từ những thực phẩm là thức ăn ưa thích của cầy, dễ kiếm, giá thành phù hợp đồng thời cung cấp đủ năng lượng, protein, vật chất khô cho cầy có thể áp dụng vào điều kiện nuôi giúp cầy vẫn sinh trưởng và phát triển bình thường và tăng khả năng ăn cà phê là cần thiết. 2. Vật liệu và phƣơng pháp nghiên cứu 2.1. Vật liệu Đối tượng thí nghiệm: Chọn 24 con cầy vòi hương trưởng thành (12 con đực và 12 con cái) có khả năng ăn cà phê, không bị bệnh, con cái không mang thai, trọng lượng trung bình từ 2 đến 4 kg. Trại nuôi: Thí nghiệm được bố trí ở trang trại nuôi cầy vòi hương của Trung tâm Ứng dụng Công nghệ sinh học tỉnh Đồng Nai (xã Xuân Đường, huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai). Trại được bao quanh bằng tường bao chắc chắn cao 2,5m có tác dụng tránh cầy thoát ra nhưng vẫn đảm bảo an toàn cho cầy, tránh được gió lùa trực tiếp, hạn chế ánh sáng quá nhiều. 162
  3. Tạp chí Khoa học Đại học Thủ Dầu Một Số 2(33)-2017 Thức ăn, nước uống, vệ sinh chuồng trại: Thức ăn cơ bản cho cầy vòi hương gồm bữa chính (cháo được nấu với các thành phần khác nhau như cá, nội tạng, đầu gà), bữa phụ (trái cây các loại, chủ yếu là chuối, đu đủ, dưa hấu). Thức ăn cơ bản được phối hợp đạt nhu cầu năng lượng khoảng 400 kcal/cá thể trưởng thành/ngày (Nguyễn Lân Hùng và Nguyễn Khắc Tích, 2010) dựa vào bảng thành phần thực phẩm Việt Nam (Bộ Y tế, 2007). Cà phê chín lựa chọn những quả chín mọng, rửa sạch, để ráo. Cầy được cho ăn 2 bữa/ngày đêm, gồm 1 bữa chính (khoảng 18h) và 1 bữa phụ (khoảng 11h - 12h trưa). Nước uống là nước sạch, cho vào chén sạch đặt trong chuồng để cầy tự uống. Chén nước được vệ sinh hằng ngày và thay nước 1 lần/ngày. Dụng cụ đựng thức ăn được lấy ra khỏi chuồng vào buổi sáng, rửa sạch và để khô, chuẩn bị cho bữa ăn chiều. Chuồng trại được rửa sạch bằng vòi nước hằng ngày. Công tác vệ sinh sát trùng được tiến hành 1 tháng/lần. Dung dịch sát trùng được sử dụng là BESTAQUAM- SR với thành phần: didecyl dimethyl ammonium bromide. Pha theo tỉ lệ 1/400. 2.2. Phương pháp nghiên cứu Bố trí thí nghiệm: Theo phương pháp bố trí ngẫu nhiên. Xác định nhu cầu thức ăn của cầy vòi hương ở giai đoạn trưởng thành - Xác định nhu cầu thức ăn: Cho cầy vòi hương ăn vào lúc 18h hằng ngày, cân lượng thức ăn thừa vào 6h ngày hôm sau. Tính lượng thức ăn tiêu thụ của cầy trên một ngày: Thức ăn tiêu thụ: M = Mt – (Ms + Mhp), trong đó M là lượng thức ăn tiêu thụ, Mt là lượng thức ăn trước khi cho ăn, Ms là lượng thức ăn còn thừa, Mhp là lượng thức ăn hao phí do thoát hơi nước, Mhp được xác định dựa vào lượng thức ăn đối chứng (cân lượng đối chứng bằng với lượng cho ăn, để bên ngoài không cho cầy ăn). - Xác định nhu cầu năng lượng, protein và vật chất khô của Cầy vòi hương theo nhu cầu thức ăn: Nhu cầu năng lượng được tính theo công thức: Trong đó: M là lượng thức ăn tiêu thụ; Kcal (loại thức ăn): năng lượng của thực phẩm trên 100gam. Nhu cầu protein được tính theo công thức: Trong đó: M là lượng thức ăn tiêu thụ, g Protein (loại thức ăn): số gram Protein của thực phẩm trên 100gam. Nhu cầu vật chất khô được tính theo công thức: Trong đó: M là lượng thức ăn tiêu thụ, g vật chất khô (loại thức ăn): vật chất khô của thực phẩm trên 100gam. - Xây dựng khẩu phần thức ăn: Bước 1: Xác định nhu cầu năng lượng, protein, vật chất khô cho cầy vòi hương ở giai đoạn trưởng thành (dựa vào nhu cầu thức ăn). 163
  4. Nguyễn Thị Thu Hiền Ảnh hưởng của một số khẩu phần thức ăn Bước 2: Xây dựng khẩu phần thức ăn. Chọn lựa các nguyên liệu thức ăn để xác định khẩu phần dựa vào bảng thành phần dinh dưỡng thức ăn Việt Nam. Các nguyên liệu thức ăn phải bảo đảm chất lượng tốt, bảo đảm tính ngon miệng của con vật. Thức ăn nguồn gốc động vật: đầu gà, nội tạng heo (phổi, gan), trứng (trứng gà, trứng vịt). Nguồn gốc thực vật: gạo, chuối, đu đủ, khoai lang, dưa hấu. Tiến hành lập công thức phối hợp thức ăn. Phương pháp này thường xác định tỷ lệ giữa nguyên liệu là thức ăn đạm thực vật so với khối lượng các nguyên liệu là loại thức ăn đạm động vật. Trên cơ sở thức ăn đã ấn định tính toán khối lượng của từng loại thức ăn này bằng phương pháp dùng phương trình đại số. Tính toán giá trị dinh dưỡng của hỗn hợp dự kiến. Dựa vào tiêu chuẩn ăn để điều chỉnh và bổ sung các chất dinh dưỡng phù hợp với nhu cầu con vật. Xác định hiệu quả của khẩu phần thức ăn đến khả năng sản xuất cà phê chồn - Một số chỉ tiêu theo dõi: Lượng cà phê ăn được. Trạng thái sức khỏe của cầy vòi hương (sinh lí tiêu hóa: cầy ăn uống bình thường, không chán ăn; phân chồn định hình thành khuôn, không bị bón hoặc tiêu chảy; biểu hiện lâm sàng bình thường). Giá thành của khẩu phần. - Cà phê sau khi thu mua tuyển chọn những quả chín mọng, rửa sạch, để ráo nước. - Bố trí thời gian cho cầy vòi hương ăn cà phê với khoảng cách là trong 2 ngày có một ngày ăn cà phê. Quả cà phê được cân 1kg cho từng cá thể cầy vòi hương thí nghiệm. Lượng quả cà phê ăn thừa sẽ được đem cân để tính khả năng ăn quả cà phê của cầy vòi hương. Lô đối chứng (n=10, 5 đực 5 cái): cầy được cho ăn theo khẩu phần thức ăn (với 70% cháo gạo tẻ , 30% đầu gà) được sử dụng hằng ngày kết hợp với ăn cà phê (2 ngày có 1 ngày ăn cà phê). Lô đối chứng được theo dõi 20 ngày trước thực nghiệm áp dụng các khẩu phần đã xây dựng. Công thức tính lượng cà phê tiêu thụ: Mi = Mt – (Ms + Mhp). Trong đó Mi : lượng cà phê tiêu thụ; Mt: lượng cà phê trước khi cho ăn; Ms : lượng cà phê còn thừa; Mhp: lượng hao hụt do thoát hơi nước; Mhp được xác định dựa vào lượng cà phê đối chứng (cân 1000g để bên ngoài, không cho cầy ăn). - Xử lí số liệu: từ các số liệu thu được, tiến hành tính các tham số thống kê cơ bản: Trung bình cộng (X̅ ), Độ lệch chuẩn (SD), phân tích Anova một nhân tố với mức ý nghĩa α= 0,05. Các tính toán được thực hiện trên phần mềm MS-Excel 2013. 3. Kết quả và thảo luận 3.1. Nhu cầu thức ăn của cầy vòi hương ở giai đoạn trưởng thành Việc xác định nhu cầu thức ăn cho cầy vòi hương là cần thiết bởi nếu cho cầy ăn không đủ lượng thức ăn sẽ không đảm bảo chế độ dinh dưỡng, cầy ốm yếu, sinh trưởng và phát triển không bình thường. Ngược lại nếu cho cầy ăn quá nhiều thì cầy sẽ béo, ảnh hưởng đến sự sinh sản của con cái (Nguyễn Lân Hùng, 2010). Bên cạnh đó, khi chuẩn bị thức ăn nhiều hơn nhu cầu của cầy sẽ gây lãng phí thức ăn, tăng chi phí trong chăn nuôi. Ngoài ra, việc xác định nhu cầu thức ăn là cơ sở để nghiên cứu khẩu phần thức ăn phù hợp, đảm bảo cho cầy vòi hương sinh trưởng và phát triển bình thường và áp dụng chế độ ăn hợp lí trong mùa sản xuất “cà phê chồn”. Tiến hành khảo sát nhu cầu ăn của cầy vòi hương ăn tại 2 trại chăn nuôi tại 2 địa điểm nuôi: Đồng Nai (10 ngày/20 cá thể), Bình Dương (10 ngày/4 cá thể). Dựa vào kết quả xác định nhu cầu ăn từ thực nghiệm, kết hợp với bảng thành phần thực phẩm Việt Nam (Bộ Y tế, 2007), nhu cầu thức ăn và dinh dưỡng của 1 cá thể cầy vòi hương/ngày được trình bày ở bảng 1. 164
  5. Tạp chí Khoa học Đại học Thủ Dầu Một Số 2(33)-2017 Bảng 1. Nhu cầu thức ăn và dinh dưỡng của cầy vòi hương trong điều kiện nuôi nhốt Tổng thành phần dinh dưỡng trong Khối Thức ăn tiêu thụ 1con/ngày Tỉ lệ % khẩu phần thức ăn lượng thức ăn tiêu Nguyên liệu Địa điểm trung Tổng khối Khối thụ so với trong khẩu phần ME CP DM ME CP DM bình lượng lượng khối lượng (Kcal) (g) (g) (Kcal) (g) (g) (kg) khẩu phần thức ăn cơ thể Gạo tẻ (2200g) Bữa Cẩm Mỹ - Đầu gà (2500g) 14.000 13.133,0 592,6 3.056,0 Đồng Nai 3,3kg chính 509 480,8 18,7 115 15,4 Đu đủ (2000g) (n=20) Bữa phụ Chuối (4000g) 4.000 3.880,0 75,0 1.280,0 Bữa gạo tẻ (500g) Thành phố 3.000 2.745,0 120,0 631,5 Thủ Dầu Một - chính Đầu gà (500g) 2,5 kg 448 414,2 16 97,9 17,9 Bình Dương (n=4) Bữa phụ Chuối (800g) 800 776,0 12,0 204,8 X̅ 2,9kg 5.450 5.133,5 199,9 1.293,1 478,5 447,5 17,4 107 16,7 Sx 0,4 5.070,3 4.750,2 229,9 1087,4 30,5 33,3 1,4 8,6 1,3 *Ghi chú: ME: Năng lượng trao đổi; CP: Protein thô; DM: Vật chất khô Qua bảng 1 cho thấy mỗi cá thể cầy vòi hương nặng trung bình 2,9kg tiêu thụ lượng thức ăn 478,5g/ngày tương ứng với 447,5Kcal (khối lượng thức ăn chiếm 16,7% so với khối lượng cơ thể). Cầy có khối lượng trung bình 3,3kg tiêu thụ 509g thức ăn trong một ngày, chiếm 15,4% khối lượng cơ thể. Như vậy, lượng tiêu thụ thức ăn của 1 con/ngày tương đương và có cao hơn so với kết quả của Nguyễn Xuân Đặng (1994) (khoảng 400g/ngày, chiếm 10-15% khối lượng cơ thể). Thực tế khảo sát cho thấy một số con có khối lượng 2-2,5kg nhưng khả năng ăn thức ăn và tiêu thụ nhiều có thể đến 600g/ngày, chiếm hơn 30% khối lượng cơ thể. Điều này có thể lí giải vì những con có khối lượng 2-2,5kg thường ở lứa 12-24 tháng tuổi. Ở độ tuổi này thì cầy vòi hương có khả năng sinh trưởng và phát triển mạnh nên nhu cầu ăn cao. 3.2. Xây dựng khẩu phần thức ăn phù hợp sử dụng trong mùa sản xuất cà phê chồn Dựa vào kết quả bảng 1, xác định được nhu cầu thức ăn của cầy vòi hương phụ thuộc vào giai đoạn sinh trưởng và cân nặng khác nhau sẽ có nhu cầu ăn khác nhau. Mặt khác, từ nghiên cứu trước đó cho thấy để thu được nhiều cà phê chồn nguyên liệu nên cho cầy vòi hương ăn cà phê với khoảng cách là 2 ngày và tỉ lệ phù hợp là 50% thức ăn có nguồn gốc động vật, 50% thức ăn có nguồn gốc thực vật trong khẩu phần (Nguyễn Thị Thu Hiền và cs, 2017). Chính vì vậy, chúng tôi xây dựng một số khẩu phần thức ăn từ những thực phẩm là thức ăn ưa thích của cầy, dễ kiếm, giá thành phù hợp đồng thời cung cấp đủ năng lượng, protein, vật chất khô cho cầy có thể áp dụng vào điều kiện nuôi giúp cầy vẫn sinh trưởng và phát triển bình thường. Kết quả mô tả về thành phần, lượng, chất và giá thành của 3 khẩu phần xây dựng được trình bày qua bảng 2. Bảng 2 cho thấy 3 khẩu phần đã xây dựng trên đều đáp ứng đủ nhu cầu thức ăn cho cầy trong ngày (250 - 310g/ngày) và cung cấp đủ năng lượng (437,1 - 472,6Kcal), protein và vật chất khô cho cơ thể cầy vòi hương. Có thể thay đổi bữa chính có nguồn gốc động vật (đầu gà, trứng gà, phổi heo) và bữa phụ (chuối, đu đủ) tùy theo mùa và điều kiện của người chăn nuôi. 165
  6. Nguyễn Thị Thu Hiền Ảnh hưởng của một số khẩu phần thức ăn Bảng 2. Khẩu phần thức ăn cho Cầy vòi hương KHẨU PHẦN 1 Khối lượng Khối lượng Khẩu phần ME CP DM Giá thành trung bình thức ăn thô thức ăn (Kcal) (g) (g) (đồng) (kg) (g) Bữa Đầu gà 135 276,8 21,9 53,7 1.485 3,3 chính Gạo tẻ 35 120,4 2,7 30,3 385 Bữa phụ Chuối sứ 95 92,2 1,4 24,3 1.235 Tổng 265 489,3 26,0 108,3 3.105 Bữa Đầu gà 120 246,0 19,4 47,8 1.320 2,5 chính Gạo tẻ 30 103,2 2,3 26,0 330 Bữa phụ Chuối 85 82,5 1,3 21,8 1.105 Tổng 235 431,7 23,1 95,5 2.755 X̅ 2,9 250 460,5 24,5 101,9 2.930 KHẨU PHẦN 2 Khối lượng Khối lượng Khẩu phần ME CP DM Giá thành trung bình thức ăn thô thức ăn (Kcal) (g) (g) (đồng) (kg) (g) Bữa Phổi heo 200 184,0 29,6 38,8 2.000 chính Gạo tẻ 50 172,0 3,9 43,3 550 3,3 Bữa phụ Chuối sứ 130 126,1 2,0 33,3 1.690 Tổng 380 482,1 35,5 115,3 4.240 Bữa Phổi heo 170 156,4 25,2 33,0 1.700 chính Gạo tẻ 40 137,6 3,1 34,6 440 2,5 Bữa phụ Chuối sứ 120 116,4 1,8 30,7 1.560 Tổng 330 410,4 30,1 98,3 3.700 X̅ 2,9 355 446,3 32,8 106,8 3.970 KHẨU PHẦN 3 Khối lượng Khối lượng Khẩu phần ME CP DM Giá thành trung bình thức ăn thô thức ăn (Kcal) (g) (g) (đồng) (kg) (g) Trứng gà 160 265,6 23,7 46,7 5.280 Bữa công nghiệp chính Gạo tẻ 50 172,0 3,9 43,3 550 3,3 Bữa phụ Đu đủ chín 100 35,0 1,0 10,0 1.300 Tổng 310 472,6 28,6 100,0 7.130 Trứng gà Bữa 140 232,4 20,7 40,9 4.620 công nghiệp chính Gạo tẻ 40 137,6 3,1 34,6 440 2,5 Bữa phụ Đu đủ chín 90 31,5 0,9 9,0 1.170 Tổng 270 401,5 24,7 84,5 6.230 X̅ 2,9 290 437,1 26,7 92,2 6.680 166
  7. Tạp chí Khoa học Đại học Thủ Dầu Một Số 2(33)-2017 3.3. Kết quả thực nghiệm áp dụng các khẩu phần thức ăn đến khả năng sản xuất cà phê chồn Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hiền và cs (2017) về ảnh hưởng của chế độ ăn đến khả năng sản xuất cà phê chồn trong điều kiện nuôi nhốt nếu cho cầy vòi hương ăn 80% thức ăn cơ bản thì sẽ thu được lượng cà phê chồn cao nhất. Chúng tôi tiến hành thí nghiệm trên 24 cá thể cầy vòi hương (12 đực, 12 cái) được bố trí làm 4 lô (n=6, 3 đực 3 cái) theo phương pháp ngẫu nhiên trong đó lô 1, 2, 3 cho cầy ăn với khẩu phần tương ứng 1, 2, 3 đã xây dựng ở mục 3.2; lô thứ 4 cho cầy ăn xen kẽ từ 3 khẩu phần trên; lô đối chứng (n=10, 5 đực 5 cái): cầy được cho ăn theo khẩu phần thức ăn (với 70% cháo gạo tẻ, 30% đầu gà) được sử dụng hằng ngày tại Trung tâm Ứng dụng Công nghệ sinh học Đồng Nai. Kết quả thu được ở bảng 3. Bảng 3. Ảnh hưởng của khẩu phần thức ăn đến khả năng sản xuất cà phê chồn Lượng cà phê Lô Giá thành Khối lượng (g) Sinh lí Khẩu phần ăn được (g) thí nghiệm (đồng) tiêu hóa X̅ ± Sx Cv % Trước Sau Lô 1 Khẩu phần 1 343a ± 70 6,82 3.105 3.317 3.595 Bình thường Lô 2 Khẩu phần 2 330a ± 50 5,55 4.240 3.300 3.605 Bình thường Lô 3 Khẩu phần 3 333a ± 56 6,08 7.130 3.267 3.550 Bình thường Lô 4 Kết hợp 3 khẩu phần 355a ± 60 6,40 4.825 3.300 3.625 Bình thường b Lô đối chứng Khẩu phần hằng ngày 243 ± 26 4,27 2.300 3.310 3.600 Bình thường Khi áp dụng 3 khẩu phần đã xây dựng ở mục 3.2 vào thực nghiệm cho cầy vòi hương ăn thì ở cả 3 khẩu phần cầy đều ăn được lượng cà phê tương đối ổn định (từ 330-355 g/con/ngày), giữa các lô thí nghiệm có lượng cà phê ăn được/con/ngày có khác nhau, lô 4 có lượng cà phê ăn được là cao nhất nhưng sự sai khác này là không đáng kể (p>0,05). Khi so với lô đối chứng (243g/con/ngày) thì cả ba lô 1,2,3 đều cao hơn đáng kể và sự sai khác có ý nghĩa thống kê (P<0,05) và cao hơn so với nghiên cứu trước đó (283,6 g/con/ngày – Nguyễn Thị Thu Hiền và cs, 2017). Tuy giữa các khẩu phần lượng cà phê ăn được cá sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê, nhưng khi xét đến giá thành, sinh lí tiêu hóa của cầy thì khẩu phần 1 có nhiều lợi thế hơn vì vừa cho lượng cà phê cao hơn 2 khẩu phần còn lại trong khi đó giá thành thấp và dễ tìm nguồn thực phẩm trên thị trường. Mặt khác qua bảng 3 ở lô 4 thì cho lượng cà phê chồn nhiều nhất vì việc xen kẽ 3 khẩu phần trên sẽ cung cấp nhiều nguồn thức ăn đa dạng và giúp cầy không bị chán ăn. Vì vậy để thu được lượng cà phê chồn nhiều nhất thì người chăn nuôi nên lựa chọn cách kết hợp nhiều loại thức ăn, đa dạng hóa khẩu phần như ở lô thí nghiệm 4. Trong thời gian thực nghiệm với các khẩu phần đã xây dựng thì cầy vòi hương vẫn sinh trưởng và phát triển bình thường, tăng trọng từ 200 - 250g/tháng. Ngoài ra, khi đánh giá các biểu hiện trạng thái sinh lí tiêu hóa thì thấy cầy vẫn ăn uống bình thường, không chán ăn, phân chồn định hình thành khuôn, không bị bón hay tiêu chảy trong suốt quá trình thực nghiệm. Do đó có thể kết luận việc sử dụng các khẩu phần đã xây dựng trong thực nghiệm đã không ảnh hưởng đến sinh trưởng và sinh lí của cầy vòi hương. Từ khảo nghiệm thực tế tại Trung tâm Ứng dụng Công nghệ sinh học Đồng Nai, cứ mỗi 100g cà phê tươi sẽ thu được khoảng 65g cà phê phân chồn; 3000g cà phê phân chồn tươi sau khi phơi sấy khô thu được tương đương 1000g phân chồn khô thành phẩm với giá bán 2.500.000 đồng/kg. 167
  8. Nguyễn Thị Thu Hiền Ảnh hưởng của một số khẩu phần thức ăn Trên cơ sở đó, chúng tôi đánh giá sơ bộ tính hiệu quả kinh tế của việc áp dụng các khẩu phần thức ăn đã xây dựng đến khả năng sản xuất cà phê chồn. Kết quả đánh giá hiệu quả kinh tế được thể hiện qua bảng 4. Bảng 4. Hiệu quả kinh tế của việc áp dụng các khẩu phần đến sản xuất cà phê chồn nguyên liệu Tổng chi phí Tổng lượng cà phê Tổng lượng cà phê Tổng giá thành Chênh lệch lợi nhuận Lô thức ăn ăn được/ngày chồn thu được/ngày cà phê chồn so với lô đối chứng thí nghiệm (đồng/ngày) (g) (g) (đồng/ngày) (đồng/ngày) Lô 1 (n=6) 18.900 2.058 1.358 1.132.000 324.900 Lô 2 (n=6) 25.440 1.980 1.306 1.088.000 274.360 Lô 3 (n=6) 42.780 1.998 1.319 1.099.000 268.020 Lô 4 (n=6) 28.950 2.130 1.405 1.171.000 353.850 Lô ĐC (n=10) 13.800 1.458 962 802.000 Qua bảng 4 ta thấy việc áp dụng 3 khẩu phần trong thực nghiệm đem lại lợi nhuận cao hơn cho người chăn nuôi. Với tổng lượng cà phê tươi mỗi lô (n=6) cầy ăn được từ 1980-2130g/ngày thì thu được 1306 - 1405g/ngày lượng cà phê phân chồn khô. Bên cạnh đó, khi cho cầy ăn những khẩu phần đã xây dựng thì người chăn nuôi có nhiều lợi nhuận hơn so với thức ăn hằng ngày từ 1.088.00 – 1.171.000 đồng/ngày, trong khi đó ở lô đối chứng thu được 802.000 đồng, như vậy chênh lệch lợi nhuận của lô thực nghiệm với lô đối chứng từ 268.020 – 353.850 đồng/ngày. Cho cầy ăn các khẩu phần trên trong 1 tháng thì người chăn nuôi có lợi nhuận cao hơn khoảng 16.081.200 – 21.231.000 đồng/20 con tương ứng 804.060 – 1.061.550 đồng/con. 4. Kết luận - Nhu cầu thức ăn của cầy có khối lượng trung bình 3,3kg tiêu thụ lượng thức ăn 509g/ngày tương ứng 480Kcal năng lượng; ở cầy có cân nặng trung bình 2,5kg tiêu thụ 4480g/ngày tương đương 414Kcal. - Cầy vòi hương ăn cà phê kết hợp với khẩu phần đã xây dựng cho thấy lượng cà phê cầy ăn được khá cao (từ 330 - 343g/con/ngày), cao hơn so với lô đối chứng (243g/con/ngày), khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05). - Cần tiếp tục xây dựng và đưa vào thực nghiệm một số nhóm khẩu phần khác từ các nguồn thức ăn sẵn có ở địa phương vào trong chăn nuôi cầy vòi hương. TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] Viện Dinh dưỡng - Bộ Y tế (2007), Bảng thành phần thực phẩm Việt Nam, NXB Y học. [2] Nguyễn Thanh Bình (2015a), Ảnh hưởng của kích dục tố HCG và PMSG đến kết quả sinh sản của cầy vòi hương Paradoxurus hermaphroditus trong điều kiện nuôi nhốt, Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thú y, Tập 17 (số 8), tr. 54-57. [3] Nguyễn Thanh Bình (2015b), Một số bệnh thường gặp trên chồn hương trong điều kiện nuôi nhốt và biện pháp xử lý, Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thú y, Tập 17 (số 8), tr. 58-63. [4] Nguyễn Xuân Đặng (1994), Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái và khả năng nhân nuôi của một số loài cầy (họ Viverridae) ở Việt Nam, Luận án Phó Tiến sĩ Sinh học, Hà Nội. 168
  9. Tạp chí Khoa học Đại học Thủ Dầu Một Số 2(33)-2017 [5] Duckworth J.W., Widmann P., Custodio C., Gonzalez J.C., Jennings A., Veron G. (2014), "Paradoxurus hermaphroditus", IUCN Red List of Threatened Species, Version 2014.3, International Union for Conservation of Nature. [6] Joshi A., Smith J., Cuthbert F. (1995), Influences of Food Distribution and Predation Pressures on Spacing Behavior in Palm Civets, Journal of Mammology, 76(4):1205-1212. [7] Grassman Jr., L. I, (1998), Movements and fruit selection of two Paradoxurinae species in a dry evergreen forest in Southern Thailand, Small Carnivore Conservation 19: 25–29. [8] Nguyễn Thị Thu Hiền và cs (2017), Ảnh hưởng của chế độ ăn đến khả năng sản xuất cà phê chồn nguyên liệu của Cầy vòi hương (Paradoxurus hermaphroditus Pallas, 1777) trong điều kiện nuôi nhốt, Kỉ yếu hội nghị Khoa học toàn quốc Chăn nuôi - Thú y, ISBN: 978-640-60- 2492-7, 283-289. [9] Nguyễn Lân Hùng, Nguyễn Khắc Tích (2010), Nghề nuôi cầy hương, NXB Nông nghiệp. [10] Đặng Huy Huỳnh và cs, (2010), Thú rừng – Mammalia Việt Nam, hình thái và sinh học sinh thái một số loài, tập II, NXB Khoa học và Công nghệ. [11] Iseborn T, Rogers L. D., Rawson B. and Nekaris K. A. I. (2012), Sightings of Common Palm Civets Paradoxurus hermaphroditus and of other civet species at Phnom Samkos Wildlife Sanctuary and Veun Sai–Siem Pang Conservation Area, Cambodia, Small Carnivore Conservation, Vol. 46, June. [12] Nakashima Y., Inoue E., Inoue-Murayama,M. & Sukor J. A (2010a), High potential of a disturbance-tolerant frugivore, the Common Palm Civet Paradoxurus hermaphroditus (Viverridae), as a seed disperser for large-seeded plants, Mammal Study 35: 209–215. [13] Nakashima Y., Inoue E. & Inoue-Murayama M (2010b), Functional uniqueness of a small carnivore as seed dispersal agents: a case study of the Common Palm Civets in the Tabin, Wildlife Reserve, Sabah, Malaysia. Oecologia 164: 721–730. LỜI CẢM ƠN: Nghiên cứu được hoàn thành với kinh phí của đề tài “Xác định nhu cầu dinh dưỡng và xây dựng khẩu phần thức ăn nhằm tăng khả năng sản xuất cà phê chồn nguyên liệu cho cầy vòi hương (Paradoxurus hermaphroditus Pallas, 1777) trong điều kiện nuôi nhốt” của Trường Đại học Thủ Dầu Một. Nhóm tác giả trân trọng cảm ơn Trung tâm Ứng dụng Công nghệ sinh học tỉnh Đồng Nai đã hỗ trợ trong quá trình thực hiện đề tài. 169